T.T.Thích Tâm Ấn
Châm cứu học
Chương 1
(Biên khảo về Châm cứu của T.T Thích Tâm Ấn)
T.T. THÍCH TÂM ẤN
CHÂM CỨU HỌC
1965
Nguồn gốc và lịch sử khoa châm cứu
Căn cứ theo sách y
học Trung Hoa (Nội kinh tố vấn luận) và tài liệu của Thừa đạm am một
Châm cứu gia trứ danh Trung quốc thì khoa châm cứu là một phương pháp
chữa bịnh thời tối cổ của nước này cách đây hơn 5.000 năm.
Người
thượng cổ vì sự sống quá thô sơ nên phần nhiều bị ngoại tà xâm nhập làm
thịt nhức, gân co. Khi có bệnh chỉ biết dùng lửa để hơ và dùng đá nhọn
để châm chích (thạch khí thời đại). Cách trị liệu này dần dần đúc kết
thành khoa châm cứu ngày nay.
Do kinh
nghiệm sống thời thượng cổ, Thánh nhân đã dạy rằng: vì cuộc sống đơn
giãn của loài người thuở ấy nên việc trị bệnh cũng đơn giãn, có khi chỉ
lấy tay ấn vào huyệt, xoa mạnh vào vùng kinh lạc tập trung, hay hơ ấm
những nơi đó cũng lành bệnh được. Nên phương pháp trị bịnh thuở ấy rất
giãn dị như án ma, suy nả, quất thử, huân úy, tẩm dục, đồ hoán, phu
triêm, xuy thông, điều nhập , đạo dẫn, châm cứu, chà bóp (massage) sửa
lận xương gân , cạo gió, bắt gió xông giác (fumigation, inhalation,
révulasion) tắm (bain médicamenteuse) thoa rưới (Badigeonage friction)
đặt dán (catalasme, emplâtre) thổi thụt (insufflation) nhét hậu môn
(suppositoire), thông khoan bằng thuốc hay các chất giúp cho thông đại
tiện (gymnastique), châm đốt vào các kinh lạc của các kinh huyệt
(acupunture).
Tất cả các phương pháp trên
chỉ có châm cứu là quan hệ nhất. Các phương pháp khác chỉ có tính cách
phụ trợ, giải quyết tạm thời chứ không thể lành bệnh hẳn được.
Từ khi có văn tự, sự
ghi chép và kinh nghiệm về khoa châm cứu được hệ thống hoá có qui củ.
Trái qua ngàn năm với các kinh nghiệm được thêm thắt lần hồi làm cho
khoa châm cứu trở nên cực kỳ tinh vi thần diệu. Khoa này thịnh hành nhất
từ năm 1277 đến năm 1628 ở Trung Hoa, Cao Ly, nhật Bản và Việt Nam.
Từ
đó ngoài những châm cứu gia, các Đông y sư cũng dùng châm cứu để làm
trợ liệu cho thang dược, thâu thập rất nhiều kết quả khả quan ngoài sức
tưởng tượng.
Đến thế kỷ thứ 17 nhân có
một số khoa học gia Đông Tây bắt đầu nghiên cứu về khoa này với những
quan niệm ôn cố nhi tri tâm làm cho khoa châm cứu đươc phát triển rộng
ra. Phong trào nầy đã đưa khoa châm cứu tiến thêm một bước khá dài.
Đôngy cho đó là cơ hội âu phong đông tiệm.
Hiện
nay khoa châm cứu đã được thế giới chú ý, cả Tây y cũng đặt thành vấn
đề nghiên cứu phối hợp trị liệu cho các bệnh nhân hàng ngày.
Ở Pháp , Đức, Nhựt,
Đại Hàn, Trung Hoa, vv… đều có thành lập các viện châm cứu, các y viện
chuyên trị bệnh bằng khoa này, thu thập hằng ngàn luận án để tổng kết
phổ biến kinh nghiệm và 3 năm có họp một lần, một tạp chí ra hàng tháng
(R.I.A) được phát hành rộng rãi.
Ở Việt
Nam khoa châm cứu chưa được phát triển rộng rãi và chỉ có một số đông y
sư áp dụng châm cứu với tính cách phụ trợ cho thang dược mà thôi.
Y
sư Nguyễn Văn Quan sau bao năm nghiên cứu ở Nhựt, trở về nước mở phòng
trị bệnh nhưng thời bấy giờ ít ai hiểu được sự công hiệu của khoa này
nên ông lại trở qua Nhật chuyên khảo cứu và xuất bản nhiều quyển sách
rất có giá trị.
Từ 1949 đến 1950 , sau
khi dự Hội nghị châm cứu Quốc tế về, Bác sĩ Nguyễn Văn Ba đã chuyển
hướng chữa bệnh bằng khoa châm cứu. Bác sĩ Nguyễn văn Ba, nghiên cứu
nhiều về Đôngy và châm cứu, trong việc trị bệnh hằng ngày Bác sĩ Ba
thường trị bằng châm cứu và thuốc Tàu.
Bác sĩ Hoàng Mộng Lương tuy chuyên về Tây y nhưng cũng áp dụng phương pháp trị liệu về khoa châm cứu.
Đông
ý sư có công nghiên cứu về châm cứu và có nhiều kinh nghiệm về thuật
nầy hiện nay rất ít. Ở Nam Việt có cụ Lê Chí Thuần, một Lão y sư có tên
tuổi.
Ở Huế có Lão y sư Trần Tiển Hy,
Thái Y Nguyễn Văn Ái cũng là bậc Lão Y, Lão Nho, nghiên cứu và áp dụng
lâu năm khoa nầy và đã có rất nhiều kinh nghiệm.
Hiện nay một số Đông y sĩ trẻ tuổi và sinh viên Y khoa đang cố công nghiên cứu áp dụng khoa châm cứu.
II. KHOA CHÂM CỨU VỚI CÁC LOẠI BỊNH
Khoa
châm cứu là thuật trị bịnh rất khoa học, dựa vào kinh lạc, cơ điểm của
từng tạng phủ, từng hệ thống một của thần kinh của mỗi bộ phận trong
người, đúng với nguyên tắc cấu tạo của cơ thể học (cơ thể học: Anatomie)
Nói đến châm cứu đa số còn quan niệm là
nó chỉ trị được một số bệnh như đau lưng, nhức đầu, đau bụng, tê bại,
thủng trướng hay trúng phong, kinh giản v.v. . . Sự thật, những bậc tiền
bối của chúng ta từ rước cũng như các châm y hiện đại của Pháp, Đức,
Nhựt, Trung Hoa đều đã dùng châm cứu đối phó với vô số bịnh tật. Chúng
ta đọc Châm cứu Đại thành hay tạp chí của Hội Châm cứu Quốc tế (Revue
international d'acupuncture) sẽ thấy, trừ những bịnh về ngoại thương, cơ
hồ không có mấy chứng bịnh mà người ta không thể trị bằng khoa châm cứu
được. Cổ nhân có nói “vạn bệnh nhất châm”, tuy hơi quá đáng những cũng
có bằng cớ vậy.
Trước đây người phương
tây (Âu châu) có quan niệm chỉ dùng riêng cho bịnh thuộc về nhiều loại
quan năng (Troubles fontionelles) gây ra.
Sau
này nhờ sự gia công nghiên cứu của các châm gia nhất là ở Nhật (Thời
Minh Trị có nhiều Châm y đặt vấn đề khoa học hoá khoa châm cứu) người ta
đã chứng mình rằng châm cứu khoa còn trị được cả những chứng bịnh có vi
trùng như sốt rét rừng (Paludisme), dịch tả (choléra). Những bịnh về
thời khí, kinh niên nội tạng bị hư hao ít nhiều như dạ dày bị trụt
(ptôse estomac) cả những bịnh sở quan đến tinh thần (déficience mentale)
, si ngốc (idiotie), điên cuồng (démence, folie) v.v.v .. những bịnh về
tâm lý (đau nhức ở mặt vì lúc nhỏ bị nhiều sợ sệt khổ tâm) (theo y án
của Bác sĩ Kalma trong R.I.A số tháng 7, 8, năm 1959, đau đầu, ói, mửa
vì gặp điều trái ý hay nổi giận dữ (theo y án của Bác sĩ Rebuelto trong
tạp chí R.I.A tháng Avril 1951) .
Tuy nhiên có những
loại bịnh như ung thư, dương mai thì châm cứu chỉ đóng vai phụ trợ cho
thuốc mà thôi. Nói chung, châm cứu trị cả những chứng bịnh mà nội tạng
bị tổn thương (lésion)). Thực vậy Thái tử nước Quất bị chứng thi khuyết
nhờ biển Thước châm ở huyệt Duy hộ mà khỏi, Ngụy võ Đế bị đau đầu,
phong, nhờ Hoa Đà châm ở huyệt Nảo không mà hết bịnh. Kết quả trị liệu
đều do ở chỗ thủ thuật cao thấp, huyệt vị có được nắm vững hay không.
Trải
qua mấy trăm năm khoa châm cứu đã được các bậc tiền bối, nghiên cứu,
bồi bổ kinh nghiệm rất nhiều do đó nó trở thành có lý luận, trị liệu
châm cứu có căn cội, nghĩa là có luận chứng lập phương không khác nào
trị liệu bằng thang dược, đôi khi lại có phần khó hơn.
Một
quan niệm khác cho rằng châm cứu chỉ trị được một số bịnh, còn một số
bịnh khác phải nhờ uống thuốc. Như chúng ta đã biết khí hóa của Vũ trụ
và cơ thể quan hệ đến bệnh tật như thế nào mà châm cứu là khoa trị bịnh
phù hợp với khí hoá hơn hết.
Như vậy tại sao châm cứu lại chỉ trị được một số bịnh? điều này trong thực tế hàng ngày đã chứng minh được rất nhiều.
Từ
những loại bệnh do ngoại tà xâm nhập đến những bệnh nội thương bởi
chính khí của cơ thể suy kém, những kỳ bịnh do biến thể của ra khí, bịnh
hiện ngoài da, bịnh hiện trong xương thịt, bịnh phá hoại máu, làm tê
liệt một phần hệ thống thần kinh v.v.v .. đã được giải quyết bằng trị
liệu châm cứu. Tuy nhiên ,chúng ta vẫn nhận rằng sự hổ trợ giữa châm cứu
và dược tể cũng rất cần.
Âm dương suy
kém, vinh vệ không đều, thủy hỏa mất thăng bằng, vận khí không thuận
v.v. . . đó là những căn nguyên làm cho con người bịnh tật Và châm cứu
đã giải quyết được những căn nguyên của bịnh ở trên. Về trị liệu bằng
thang dược và châm cứu, nếu biết xử dụng đúng phương pháp rất nhiều
trường hợp được giải quyết nhanh chóng hơn.
Ví
dụ: một vài trị liệu cho những bịnh lạ (kỳ bịnh), thời gian dùng thang
dược sẽ dài gấp ba bốn lần so với trị liệu châm cứu. Trong thực tế dùng
khoa châm cứu để trị bịnh , kinh nghiệm đã cho biết: nhiều bệnh về loại
ngoại cảm, từ sơ phát đến khi nhiễm lý phạm vào từng kinh lạc, biến thể
nhiều tạng chứng khác (nhứt là loại trúng phong, thương hàn) công năng:
tuyến, thông, công, tán của châm cứu rất nhiều hiệu lực.
Ví dụ: tà phạm nặng
vào Túc khuyết âm biến thể của chứng nầy nếu dùng thang dược trị liệu
giải quyết sẽ rất chậm trong lúc nầy nếu dùng châm cứu thời gian sẽ rút
ngắn rất nhiều. Những bịnh về nội thương, trừ những cơ thể quá suy nhược
mới phải dùng thang dược để trị liệu, ngoài ra thì dùng châm cứu rất
kịp thời.
Ví dụ: Tà phạm nặng vào Túc
Thiếu âm làm cho kinh này suy yếu biến thể làm ê đầu thường xuyên, tai
lùng bùng, đêm ngủ mồ hôi dầm dề, suyễn, khạc ra máu, nếu dùng thang
dược để giải quyết tình trạng động kinh nầy sẽ rất chậm trong lúc cơ thể
rất cần bớt sự hành hạ dày vò. Khoa châm cứu trong trường hợp này rất
cần.
Nói chung, châm cứu
đối với các loại bịnh đều giải quyết được nhất là những bịnh thâm nhiễm
lâu ngày thì sức tuyên thông của châm cứu rất mau. Phần trợ liệu của
thang dược đối với châm cứu cần trong trường hợp cơ thể suy yếu. Ngược
lại phần trợ liệu châm cứu đối với thang dược lại rất cần cho những
trường hợp bịnh trạng quá nguy kịch loại thuốc mạnh của thang dược vẫn
giải quyết rất chậm.
III. NHẬN THỨC GIỮA TÂY Y VÀ ĐÔNG Y
Đông
y là một khoa học cố hữu của đông phương . Trước thế lực của Tây y tiến
bộ đến cực độ và tràn lan mạnh mẽ nếu đông y không có một cơ sở lý
luận, một kinh nghiệm trị liệu căn bản thực tế đem lại sức khoẻ cho loài
người thì đã bị Tây y chà nát từ lâu.
Đông
y đặt mình trên cơ sở toàn là khí hoá cho nên dù lập luận theo phương
pháp mới của Tây y, nào giải phẩu, sinh lý chẩn đoán, dược vật, v.v. .
chúng ta cũng gặp toàn là khí hoá.
Sự
thật thì Đông y và Tây y mỗi đàng có một nguyên lý, học thuyết khác nhau
như trời với vực. Tuy nhiên nếu thực tâm vì mục đích cứu khổ và phục vụ
cho nhân loại, phá bỏ mọi đố kỵ nhỏ nhen thì Đông y và Tây y có thể
phối hợp mỗi bên một phương pháp sẽ giúp cho đời rất nhiều lợi ích.
Trước Thiên Chúa Giáng sinh 460 năm, phái của Hypocrate cũng chủ trương theo lý thuyết khí hoá của vua Huỳnh đế Đông phương.
Sáu trăm năm sau,
phái Galien (Kỷ nguyên 131 – 210) nổi lên lấy vật thể giải phẩu học làm
căn cứ. Nhìn sự sống qua thể chất. Hư nghẹt chỗ nào thì cứu chữa bộ phận
chỗ ấy. đó là Khoa y học theo nguyên tắc lý thuyết Vật hoá
(l’altération de substances).
Nhằm theo
xác thịt con người, chữa bịnh bằng lối dùng vật thể thay cho bộ phận của
cơ thể hư, Tây y đã đi đến tuyệt điểm theo nguyên tắc lý thuyết của họ
nhưng vẫn chưa hoàn toàn thắng bệnh tật.
Hiện
nay một số Bác sĩ thông thái đã nhìn thấy y học ở Đông phương ngành khí
hoá học in hệt thuyết Hypocrate nên liền chú tâm nghiên cứu.
Tây
y có tham vọng tìm hiểu kinh nghiệm của Đông y, đông ý có tham vọng thể
dụng cơ giới của Tây y, hai điều đó hai bên phải đặt mình trên cơ sở
chính đáng mới có cơ hội dung hòa được.
No comments:
Post a Comment