Friday, October 11, 2013

NGỦ HÀNH SANH KHẮC

NGỦ HÀNH SANH KHẮC
 
Khí hóa của đất có 6 loại: Mộc khí, Quân hỏa, Tướng hỏa, Thổ khí, Kim khí, Thủy khí.
Khí của trời có 6 loại, người xưa đặt những tên tượng trưng: Dương minh, Thái dương, Thiếu dương, Khuyết âm, Thái âm và Thiếu âm. Cả hai khí của Trời đất phải giao hiệp nhau để thành phong, hàn thử, thấp, táo, hòa. Sái nghịch là vạn vật tiêu hao khổ bệnh.
Khí của trời thuận, chi phối được khí của đất thì sự sinh hóa thuận chiều
Kim sanh thủy,
Thủy sanh mộc
mộc sanh hoả,
hoả sanh thổ
thổ sanh kim.
Phong mộc ở mùa xuân sinh luân hỏa.
Huân hòa ở đầu mùa hạ sinh ra tướng hỏa ở cuối hạ
Thử hỏa ở chính hạ sinh ra thấp thổ
Thấp thổ ở đầu thu sinh ra táo kim
Táo kim ở cuối thu sinh ra hàn thủy.
Hàn thủy ở mùa đông rồi sự sinh hóa đi vòng trở lại cứ thế mà sinh hoá liên tiếp.
Theo Đông y luận: nhân thân là tiểu vũ trụ. Cơ thể con người định thuộc vào khí trời, khí đất, tạng phủ kinh lạc trong cơ thể con người cũng phối hợp chuyển hoá với nhau theo sự chuyển hóa của khí và sự vận hành của trời đất.
Khí trời đất chuyển hóa bất thường thì vũ trụ bịnh và làm cho vạn vật đều bịnh. Sự chuyển hóa của khí, sanh ra bịnh nội thương. Sự chuyển hoá bất thường của trời đất làm ra bịnh ngoại cảm.
Lập luận rõ ràng nguyên tắc khí hóa giữa Trời Đất và con người để theo đó mà luận bịnh gọi là khoa Khí Hoá Y lý học (altération des humeurs).
Những vì thuộc chất thể (đối lại khí thể) trong vũ trụ, đông y liệt về loại ngũ hành (kim mộc, thủy, hỏa, thổ). Những gì thuộc về khí thể (đối lại chất thể) đều liệt về loại lục khí. (phong,hàn, thử, thấp, táo, hỏa)
Theo đông y hình thể con người có hình trạng song sự đau mạnh của những hình tượng đó không thể chỉ nhìn vào mà luận được. ví dụ: tim yếu, thiếu máu, Tây y cho sang máu và làm yên tim. Đông y cho đó chỉ là trị ngọn. Cách trị của Đông y là luận rõ căn nguyên của bịnh rồi làm cho tim hoạt phát trở lại tự nó làm cho đầy máu. Như vậy đông y làm cho phần khí của tim điều hòa ăn nhịp với các phần khí của các tạng phủ khác.
Bác sĩ Sakurafawa sau khi nghiên cứu về y lý Đông phương cũng nhận chân rằng làm cho điều hòa khí huyết trong cơ thể, hể bên trong tạng phủ đã chỉnh đốn hoàn toàn thì tà khí không thể xâm nhập nhiễu nhương nữa (Il faut créer la constitution, le terrain, le milieu intérieur parfait dans lequel les facteurs maladifs ne peuvent pénétret ou ne sont plus actifs theo quyển La principe unique).
Ngũ hành tương khác là: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim.
Khoa châm cứu phân kinh lạc có âm kinh và dương kinh, huyệt có ngũ hành (kim, mộc, thủy , hỏa, thổ) tương sanh tương khắc, mỗi thứ đều có ẩn tàng ý nghĩa sâu xa. Như những chứng hư thì dùng cách châm bổ dụng ngũ hành huyệt tương sanh để có tác dụng xúc tiến cơ năng mạnh mẽ cho bịnh được bình phục. Thí dụ như: tỳ vị thuộc thổ bị hư nhược thì bổ kinh hỏa huyệt vì hoả sinh thổ. Trái lại những chứng thật thì dùng cách châm tả dụng ngủ hành huyệt tương khắc để có tác dụng chế ngự các cơ năng đem lại sự quân bình cho tạng phủ. Ví như gan, mật thuộc mộc đau thật chứng thì tả mộc kinh kim huyệt vì kim khắc mộc.

No comments:

Post a Comment